7001 South Park Ave., Tacoma, WA 98408
Phone #: (253) 475-6335


n

DI SẢN CỦA MẸ TÊRÊXA LÀ LÒNG THƯƠNG XÓT



Vị Nữ Tu Thánh Ấy Đã Biến Đổi Đời Sống Của

Những Người Công Giáo Tại Địa Phương Chúng ta

Như Thế Nào.

 

(Nguyên bản tiếng Anh của Kevin Birnbaum đăng trong

 Northwest Catholic số 7 tháng 9, 2016)




Khi Đức Giáo Hoàng Phanxicô loan báo sẽ phong thánh cho Chân Phước Têrêxa vào ngày 4 tháng 9, 2016 có lẽ ít ai ngạc nhiên. Kể từ ngày bà chết năm 1997 mẹ Têrêxa đã được tôn vinh khắp nơi như một vị thánh vì sứ mạng phục vụ những người bệnh tật và những người hấp hối ở Ấn Độ suốt mấy chục năm trường.

 

“Chỉ nghĩ rằng bà không phải là thánh cũng là ngớ ngẩn rồi,” cha Mark Stehly giáo xứ Sequim nói thế. Ngài coi Mẹ Têrêxa là người có công giữ ngài ở lại trong hàng ngũ linh mục và nói tiếp: “Bà này là thánh, nếu không thì phần lớn chúng ta làm sao có hy vọng được.”

 

Trong mấy trang sau đây ta sẽ gặp gỡ một số người Công Giáo miền Tây Washington, những người đã gặp gỡ “Vị Thánh Nơi Hang Cùng Ngõ Hẻm” và xem đời sống của họ đã được thay đổi sâu xa như thế nào.

 

“Dễ gì mà có được Stephen”

Hồi sinh thời, chồng của bà Donna Cruse là ông John đã được gặp mẹ Têrêxa lần đầu năm 1969 khi đang ở Ấn Độ nhờ sự tài trợ của chương trình Fulbright. Thời gian ông đang ở trong một cô nhi viện do một linh mục cộng sự của Mẹ quản lý thì có một em bé 5 tuổi từ một cô nhi viện của Mẹ ở Calcutta đã đến. Cậu bé Stephen bắt đầu quấn quit với ông.

 

Ông viết thư về cho Donna lúc ấy đang ở Guam cùng với đứa ba đứa con của họ, Ông hỏi ý gia đình có thể nhận cậu bé làm con nuôi chăng và bà đồng ý. Mẹ Têrêxa lưu ý ông không nên hy vọng quá nhiều - chính phủ Ấn đã làm cho việc đưa trẻ con ra khỏi xứ thành ra khó khăn – nhưng rồi Mẹ đã giúp họ vượt qua được thủ tục này.

 

Một ngày kia John bất chợt nhận thấy một điều gì quan trọng trong cuộc đời của Mẹ khi hai người gặp nhau để lo việc giấy tờ. Thấy rõ bà đang có điều gì ưu phiền lắm nên ông mới hỏi cơ sự thế nào. Bà giải thích: chiều hôm trước bà đã tìm thấy một em bé bị bỏ rơi nơi bùn lầy. Donna kể lại: “Bà đã thức cả đêm lo cho đứa bé, cố gắng cứu lấy nó, nhưng nó đã chết.”

 

Hết thủ tục hành chánh của Ấn Độ lại đến thủ tục của Mỹ, việc nhận con nuôi kéo dài cả hai năm trời. Trong thời gian đó cậu bé Stephen ở với luật sư của Mẹ Têrêxa và vợ ông ta.

 

“Hết giấy tờ này đến giấy tờ khác, phải làm đi làm lại hoài. Tôi nhớ có những lúc chúng tôi ngồi tại bàn ăn mà khóc, nghĩ rằng sẽ chẳng bao giờ có được cậu bé làm con nuôi trong khi đã hứa hẹn, hứa hẹn với một đứa bé. Lần sau cùng cậu bé nói với chồng tôi khi anh rời khỏi Ấn Độ: “Ông sẽ đưa con đi, có phải không? Ông không quên con chứ?”

 

Donna hiện nay là giáo dân giáo xứ Edward, Shelton, Bà nhớ lại lần gặp Mẹ Têrêxa vào khoảng giữa thời gian vất vả lo thủ tục giấy tờ, sau khi cả gia đình đã bay sang Calcutta để giải quyết những rắc rối của luật pháp. Bà nói điều bà ghi sâu vào tâm trí là tình thương biểu lộ rõ ràng nơi Mẹ Têrêxa đối với “mỗi người được Mẹ tiếp xúc.”

 

“Mẹ không phải là một phụ nữ xinh đẹp - thật ra chỉ là loại người bình thường – nhưng có một điều gì nơi bà vượt lên trên sắc đẹp.” nói tới đây Donna cảm động đến sa lệ và tiếp: “Như có Chúa Kytô ở nơi bà.”

 

Sau cùng vào năm 1971, vợ của luật sư chúng tôi là Patricia Roy đưa được Stephen lên máy bay và cậu được gia nhập gia đình Cruse tại Guam. Ngày nay cậu đã có gia đình và được hai con trai đã lớn.

 

“Dễ gì chúng tôi có được Stephen nếu không có Mẹ Têrêxa.” Ngừng một lát Donna nói tiếp: “Thế giới này chắc đã không có mặt hai đứa con trai tuyệt vời của Stephen. Ảnh hưởng của Mẹ đi từ thế hệ này qua thế hệ khác vì việc Mẹ đã làm cho một cậu bé ở Ấn Độ.”

 

Stephen cùng chung tấm lòng biết ơn Mẹ Têrêxa như mẹ của anh. “Không có ngày nào qua đi mà tôi không đọc một kinh để cảm ơn bà,” anh nói thế.

 

“Tôi có thể nuôi người đói ăn ngay ở đây”

Claudia Marston luôn mong ước được tới Ấn Độ để làm việc với Mẹ Têrêxa. Một ngày kia sau khi nghe một người khác nói cũng có dự tính như thế, bà cả quyết giờ đã đến, “Tôi nói với gia đình ‘tôi sắp đi’ và mọi việc xong xuôi.” Con gái của Claudia là Jenny cho biết sẽ đi với mẹ. Họ bay tới Calcutta và ở lại đó ba tuần lễ vào mùa hè năm 1995 làm việc thiện nguyện tại một cô nhi viện. Jenny nói: “Tất cả các trẻ em ở đó chỉ muốn một điều: được yêu thương.”

 

Mỗi buổi sáng kia, Claudia và Jenny đi tới nhà mẹ dòng Bác Ái Truyền Giáo để dự thánh lễ, đi qua những con đường đầy trẻ em ăn xin, xe hơi bóp còi inh ỏi, trâu  bò chạy lung tung. Khi nào có Mẹ Têrêxa ở trong phòng là người ta biết liền mặc dù Mẹ không bao giờ muốn ai chú ý đến mình

 

Claudia nhớ lại: “Nơi nào có Mẹ nơi ấy như có tiếng vang vọng: “Có tôi đây” rồi bà nói tiếp:  “Đúng thế, có một vầng hào quang uy quyền, một hào quang yêu thương.”

 

Một buổi sáng kia sau thánh lễ Jenny lấy hết can đảm tự giới thiệu mình với mẹ Têrêxa. Khi bà nắm lấy tay nàng, Jenny khóc oà lên không kìm hãm nổi. Nàng nói: “Tôi xúc động hết sức.” Rồi mẹ Têrêxa mời họ đến gặp Mẹ chiều hôm ấy trước giờ Chầu Thánh Thể. Họ nói chuyện với Mẹ hơn nửa giờ.

 

“Kết thúc buổi nói chuyện, bà đưa hai bàn tay xoa tròn trên hai má tôi như một người chị thường làm và hỏi khi nào tôi mới đến làm việc với bà.” Ngừng lại một lát rồi Jenny nói tiếp: “Quả thật tôi đã tự hỏi mình trong nhiều năm phải chăng đây là ơn gọi của tôi.” (Ngày nay Jenny mang tên Jenny Marston Howe là giáo dân giáo xứ Đực Mẹ Fatima, Seattle.)

 

Jenny nói: “Thật là một kinh nghiệm đổi đời cho tôi,” Đó cũng là kinh nghiệm của mẹ của cô.

 

Claudia nói: “Khi trở về tôi nghĩ tôi có thể làm một cái gì ngay tại quê nhà. Tôi không cần phải đi suốt nửa vòng thế giới. Tôi có thể nuôi người nghèo ngay tại đây.”

 

Thế rồi cùng với các học sinh bà dạy môn Anh Ngữ sinh ngữ hai, bà đã lập ra Hội Phục Vụ Cộng Đồng thuộc Trường Cao Đẳng Cộng Đồng Tacoma (TCC) để làm những bữa ăn theo cách nấu của nhiều nước cho người nghèo tại hai cơ quan từ thiện ở Tacoma: Nativity House và Hospitality Kitchen. Hội này tiếp tục hoạt động cho tới ngày bà về hưu năm 2005. Ngày nay Claudia là giáo dân giáo xứ Charles Borromeo, Tacoma. Bà nói:“Chúng tôi đã làm được biết bao nhiêu việc. Thật là một giấc mơ trở thành hiện thực.”

 

Và Mẹ Têrêxa chính là nguồn cảm hứng giúp làm nên tất cả mọi việc. Bà nói:“Nếu tôi không được gặp Mẹ thì làm sao việc ấy xảy ra được.”

 

Đời tôi có một niềm vui bất chấp nghịch cảnh”

Meg Nafziger chưa bao giờ được gặp Mẹ Têrêxa – chưa được gặp mặt – nhưng con người sau này sẽ làm thánh đã giúp bà vượt qua một thời kỳ đau khổ cùng cực lâu dài trong gia đình.

 

Nafziger vốn là giáo dân giáo xứ Chân Phước Têrêxa thành Calcutta, Woodinville kể từ ngày giáo xứ được thành lập năm 2004, không lâu sau khi Mẹ được phong Chân Phước. Bà cũng là phụ tá hành chánh của giáo xứ từ 2009.

 

Bà cho biết nhiều giáo dân trong xứ “thật sự muốn sống đời sống của Mẹ Têrêxa.” Trong nhiều năm qua, Nafziger cũng đi theo con đường ấy một cách đặc biệt.

 

“Mẹ tôi chết vì ung thư phổi năm 2011, bố tôi chết bệnh ung thư bọng đái năm 2013, và chồng tôi chết ung thư thực quản và dạ dày năm 2015 và tôi là người chăm sóc chính cho tất cả ba người ấy,” Cố trầm tĩnh bà nói tiếp: “Mẹ Têrêxa đã thật sự giúp tôi vượt qua những giai đoạn này.”

 

Trong thời gian ba năm dưỡi chồng bà chịu bao nhiêu đau đớn, Nafziger thường đến trước bức tượng đồng Mẹ Têrêxa lớn bằng người thật ở giáo xứ. “Tôi cứ đặt hai tay trên chân Mẹ và nài xin Mẹ giúp tôi nên giống Mẹ hơn.”

 

Bà tìm thấy nguồn cảm hứng nơi ý chí của Mẹ, ý chí đi vào những gì u uẩn và hỗn độn của đời người và “quyết tâm của Mẹ vững bước tiến lên với tình yêu trong lòng” – ngay cả khi Mẹ phải trải qua một đêm dài sâu thẳm của tâm hồn kéo dài suốt 50 năm mà vẫn chưa cảm thấy được sự hiện diện của Chúa. Mẹ Têrêxa đã giúp Nafziger  thấy được khía cạnh đặc biệt của đau khổ gắn liền với ơn cứu độ.

 

“Thật là một kinh nghiệm đổi đời cho tôi. Đời tôi có một niềm vui bất chấp tất cả, một niềm vui bất chấp nghịch cảnh.” Nafziger quả quyết như vậy.

 

Bà Nafziger và ba con đã có mặt trong số hơn 80 giáo dân xứ Chân Phước Têrêxa thành Calcutta tại Công Trường Thánh Phêrô khi Đức Giáo Hoàng Phanxicô chính thức tuyên bố phong thánh cho Mẹ vào ngày 4 tháng 9.

 

Cha Frank Schuster quản nhiệm xứ Chân Phước Têrêxa thành Calcutta nói: “Giáo dân của chúng tôi có lòng sung kính đặc biệt với nữ thánh quan thày của họ. Mẹ Têrêxa kêu gọi chúng tôi thương xót những người khốn khó. Là cha chính xứ tôi cảm thấy có diễm phúc được sống giữa những giáo dân biết lo lắng cho người khác.”

 

Ngài nói tiếp: “Nhờ có những giáo dân như vậy chúng tôi  đã tổ chức được một trại hè cho người vô gia cư ngay tại giáo xứ suốt mấy tháng trong năm nay. Chúng tôi có một chương trình Bác Ái Vinh Sơn mạnh mẽ để giúp cho một số người trong vùng có thể tiếp tục sống tại nhà và chúng tôi đang hỗ trợ cho trên 70 cô nhi ở châu Phi.”

 

Sau lễ phong thánh, giáo xứ sẽ đổi tên thành Giáo Xứ Thánh Têrêxa thành Calcutta. Để chuẩn  bị cho ngày đó giáo xứ đã dung những kẹp sắt để gắn bảng tên “Chân Phước Têrêxa” bên ngoài nhà thờ.

 

“Chỉ việc gỡ bảng tên cũ xuống và gắn bảng tên mới lên là xong và chúng tôi đã chuẩn bị sẵn sàng. Ngừng lại một chút rồi cha Schuster nói tiếp: “Một người như Mẹ Têrêxa không làm thánh sao được, phải không?”

 

“Biết đâu tôi đã bỏ cuộc”

Cha Mark Stehly đã cử hành lễ kỷ niệm 50 năm linh mục của ngài vào tháng Tư. Nhưng biết đâu cha đã chẳng bền đỗ được như vậy nếu không có ngày hôm ấy, một ngày tháng 10 năm 1973 mà cha có nhiệm vụ chở Mẹ Têrêxa trong cái xe Ford Pickup nhỏ của ngài, chạy hết nơi này đến nơi khác trong thành phố Los Angeles.

 

Mới đây cha tâm sự: “Tôi rất đỗi kinh ngạc vì Chúa đã thương tôi đến thế. Mẹ Têrêxa là một tấm gương vĩ đại nhất.”

 

Lúc ấy Mẹ tới Los Angelus để đọc diễn từ trong một bữa tiệc và một cha bạn đã nhờ cha Stehly làm người lái xe cho Mẹ. Sau cuộc nói truyện cả ba người lên cái xe truck bé nhỏ, Mẹ Têrêxa ngồi xen giữa hai cha. Cha Stehly đang chạy vội để tới nơi kế tiếp. Khi gần tới đèn vàng ngài bắt đầu thắng lại, nhưng ông cha bạn la lên: “ Cứ chạy, Mark, cứ chạy.” Mẹ Têrêxa lao người về phía trước rồi bị ném về phía sau. Mẹ liền la lên, bông đùa: “Giờ tôi mới biết bọn cướp ngân hàng cảm thấy thế nào trong khi tháo chạy.” Cha nói tiếp, “ Mẹ có óc hài hước thật dí dỏm.”

 

Nhưng chỉ lát sau câu truyện trở lại nghiêm chỉnh. Cha Stehly lúc ấy mới 32 tuổi, bộc lộ với Mẹ về những trăn trở của ngài về tâm trạng buồn chán và những hoài nghi về ơn gọi của ngài: “Thưa Mẹ Têrêxa, con thấy không được vững tâm lắm…Con làm linh mục có đúng không? Con cảm thấy không xứng đáng. Con nghĩ con không phải là một linh mục tốt, và con không biết thế nào nữa.”

 

“Và Mẹ tỏ ra rất quan tâm.” Sau này ngài mới tiết lộ là kinh nghiệm của ngài khi đó cũng là kinh nghiệm chung của những người đã được gặp Mẹ Têrêxa: “Tôi cảm thấy như tôi là người quan trọng nhất trên đời.”

 

Cách Mẹ nói đã giúp cha Stehly nhìn thấy bản thân mình như Chúa muốn: “Thứ tình yêu mà Mẹ biểu lộ không phải tình yêu thông thường của người trần. Đó là sự biểu lộ tình yêu của Chúa,” cha nói tiếp: “giống như một phép lạ.”

 

Mấy ngày sau Cha Stehly nhận được một lá thư do chính Mẹ viết. Thư bắt đầu: Cha Stehly, linh muc thân mến. Tôi biết Cha cảm thấy thế nào rồi, nhưng đừng bao giờ nhìn xuống – luôn luôn nhìn lên. Đừng bao giờ thất hứa với Chúa, vì cha thuộc về Ngài trọn đời.”

 

“Còn việc gì lớn hơn, còn tình yêu nào vĩ đại hơn, còn sự ủy thác nào cao quý hơn mà Cha Trên Trời có thể cho một người trần ngoài việc này: làm cho cha trở thành Linh Mục của Ngài. Khi cha cầm Chúa trong tay xin nhớ cầu cho tôi.”

 

Lá thư đó làm cho cha sa lệ. Nhìn lại quá khứ ngài nghĩ biết đâu ngày nay cha không còn là linh mục nữa nếu không có Mẹ Têrêxa: “Có lẽ tôi đã bỏ cuộc không bao nhiêu năm sau đó.”

 

Cha Stehly nay đã thành một linh mục cao niên sống ở Sequim nói việc gặp gỡ Mẹ Têrêxa đã thay đổi cách cha thi hành mục vụ tại các bệnh viện và nơi những người vô gia cư. Cha nói: “Việc đó cho tôi lòng can đảm để hiện diện, đến với người ta bất cứ cách nào mà người ta cần.”


 

Vũ Vượng dịch